Thông Báo Chuyên Mục Mới!

Kính thưa Qúy Vị,
Phần xem sơ lượt Tử Vi năm Kỷ Hợi 2019 đã được chúng tôi phát hành. Phần tử vi này gồm có 108 trang bao gồm cả nam và nữ, từ 17 tuổi đến 70 tuổi để quý vị tham khảo trước thềm măm mới, mỗi độ xuân về. Quý vi có thể xem sơ qua tình duyên, công danh, sự nghiệp, sức khỏe, sao hạn trong năm mới Kỷ Hợi 2019 này như thể nào, để thuận việc cúng sao cầu an cho bản thân và gian đình.

Qúy vị hãy cố gắng chia sẽ trang Xemtuong.net lên Facebook để nhiều người biết và chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển nhiều ứng đụng hay để phục vụ quý vị.

Trân Trọng!
XemTuong.net



Nguyên lư âm dương và ngũ hành
ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH TRONG VŨ TRỤ QUAN TRUNG HOA
a ) Lược sử :     
Thuyết âm Dương Ngũ hành đă được đề cập đến trong một tác phẩm thành văn tối cổ Trung Hoa là kinh Dịch. Tuy vậy, kinh Dịch của Khổng Tử chỉ là sự thâu nhập các kiến thức và quan niệm của người xưa từ thời vua Phục Hy lưu truyền đến đời Khổng Tử. Khổng Tử chỉ góp nhặt và suy diễn thêm cho thành một hệ thống và ghi lại thành văn bản cho hậu thế mà thôi.
Theo truyền thuyết, người đầu tiên nhận thức được các lẽ âm dương biến hoá của Trời Đất, vạn vật là vua Phục Hy ( khoảng 44 thế kỷ trước Tây lịch ), người minh thị đề cập đến cái dụng của Ngũ hành là vua Hạ Vũ ( khoảng 22 thế kỷ trước Tây lịch ).
Đến thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, tại nước Tề ( nay là tỉnh Sơn Đông ) có học giả Trâu Diễn, căn cứ vào Kinh Dịch, đă phổ biến hết tinh thần và công dụng của Âm dương, ngũ hành không những vào sự vật thiên nhiên mà c̣n cả vào việc người nữa. Do đó, người đời sau coi Trâu Diễm như người khai sáng ra phái Âm Dương. Phái này chính là nguồn gốc của phái Lư Số do các học giả đời Tống sau này sáng lập.
Đến đời Hán, học giả Dương Hùng ( 53 trước Tây lịch - 20 Tây lịch ) tham bác kinh Dịch và Đạo đức kinh mở ra ngành Lư số học sơ khai qua tác phẩm Thái huyền kinh.
Đến đời Tống sơ ( khoảng thế kỷ thứ 10 ) một nhân vật đạo gia kiêm nho gia là Trần Đoàn tự là Đồ Nam, hiệu là Hi Di tiên sinh, tinh thông cả Lư Số học của các nhà đi trước đă tổng hợp các kiến giả về lư Thái cực của vũ trụ, lấy tượng số mà xét sự vận chuyển của Trời Đất, suy diễn ra hành động của vạn vật rồi áp dụng các hệ quả của Lư thái cực vào Nhân tướng học đế giải đoán tâm t́nh, vận số của con người , mở đầu cho Lư Số và Tướng số học.
Từ đó về sau, quan niệm Âm Dương, Ngũ hành được áp dụng rộng răi vào Nhân tướng học và thành ra một thành tố bất khả phân trong tướng thuật.
b ) Nội dung của Thuyết âm Dương, Ngũ hành
Theo cổ nhân Trung Hoa, lúc đầu vũ trụ chỉ là một khối hỗn độn, không có h́nh dạng rơ ràng được gọi là thời Hỗn mạng. Trong sư Hỗn mạng đó, bàng bạc cái lẽ vô linh linh diệu gọi là Thái cực. ( Sở dĩ gọi là Thái cực. ( Sở dĩ gọi là Thái cực v́ nó huyền bí và vô tận nên không thể xác định rơ ban thế cuả nó ra sao).
Tuy nhiên, dẫu không biết được chân tính và chân chất của cái lẽ Thái cực huyền v́ song ta có thể dựa vào sự quan sát về tính cách biến hoá của vạn vật mà suy ra được cái đông thể của Thái cực. Căn bản của sự chuyển biến hoá được biểu lộ bằng hai trạng thái tương phản là Động và Tĩnh. Động gọi là Dương, Tĩnh gọi là Âm. Dương lên đến cực độ th́ lại biến ra Dương. Hai cái trạng thái tương đối của cái Bản thể nguyên khởi duy nhất ( Thái cực ) cứ tiếp diễn măi, điều hợp với nhau, sinh sinh hoá hoá không ngừng mà sinh ra Trời, Đất, Người cùng vạn vật. V́ Âm Dương phối hợp, đun đẩy lẫn nhau chuyển hoá thành thiên h́nh vạn trạng).
Theo cổ nhân, mỗi chu tŕnh gồm bốn giai đoạn :
a ) Nguyên : Khởi đầu của sự biến hoá  
b ) Hạnh : Sự thông đạt , hội hợp các thành tố  
c ) Lợi : Sự thỏa đáng các điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng  
d ) Trinh : Sự thành tựu chung cuộc của một chu tŕnh sinh ra sự vật
Biến hoá là ngoại biểu của Thái cực mà đạo Dịch căn cứ trên sự biến hoá của vũ trụ và vạn vật. Do đó, Kinh Dịch mô tả diễn tŕnh chuyển hoá (Dịch) một cách khái quát như sau :
“ Dịch hữu Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh Ngũ hành : Đạo Dịch có nguồn gốc là Thái cực, Thái cực sinh ra hai Nghi ( Âm và Dương ) hai Nghi sinh ra bốn Tượng (bốn trạng thái tượng trưng bằng bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông ) bốn tượng sinh ra tám Quẻ ( Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ) tượng trưng cho Trời, Đầm, Lửa, Sấm, Gió, Nú, Nước, Đất ) tám Quẻ sinh ra năm Hành ( năm loại nguyên tố cấu tạo ra vạn vật hữu h́nh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ).
Khởi đầu của sự biến hoá rất đơn giản, rồi từ cái đơn giản đó mà chuyển hoá dần dần để thành ra phồn tạp. V́ Âm Dương là hai thành tố đầu tiên của vũ trụ, nên được Kinh Dịch chọn là biểu tượng căn bản và tượng trưng bằng hai cái vạch đơn giản :
a ) Vạch liên tục      tượng trưng cho Dương     
b ) Vạch gián đoạn  ( -  - ) tượng trưng cho Âm
Trong phép biến đổi hoá để sinh ra Bát quái, hai vạch tượng trưng cho Âm Dương lần lượt chồng chất lên nhau theo nền tảng tam tài mà thành ra tám Quẻ căn bản với h́nh dạng và ư nghĩa tượng trưng sau đây :
1 - Kiền      tượng trưng cho Trời     
2 - Đoài    tượng trưng cho Đầm , Ao          
3 - Ly      tượng trưng cho Lửa
4 - Chấn      tượng trưng cho Sấm     
5 - Tốn      tượng trưng cho Gió     
6 - Cấn      tượng trưng cho Núi     
7 - Khảm      tượng trưng cho Nước     
8 - Khôn      tượng trưng cho Đất
Đó là tám Quẻ nguyên thủy gọi là “ Tiên thiên Bát quái “ do vua Phục Hy ( 4477 - 4363 ) trước Tây lịch vạch ra để giải thích cái lẽ Âm Dương biến hoá của Thái cực. Về sau vua Hạ Vũ (2205 - 2163 trước Tây lịch) đặt ra Cửu trù ( chín pháp lớn ) phối hợp với Bát quái và tính cái số của Ngũ hành trong việc giải thích lẽ biến hoá của vũ trụ và vạn vật.
Tới đời Tây Chu, vua Văn Vương, trong thời gian bị giam ở ngục Dũ Lư ( khoảng thế kỷ 11 trước Tây lịch ) đă dành th́ giờ nhàn rỗi diễn lại các quẻ tiên thiên Bát quái của Phục Hy thành tám quẻ, Bát quái mới gọi là hậu thiên Bát quái với các ư nghĩa thiên về nhân sự để dùng vào việc bói toán và suy gẫm việc ngườ . Con Văn Vương là Chu Công Đán về sau có giải thích thêm đôi chút về ư nghĩa và công dụng của kẻ Bát quái, nhưng rất ngắn và mơ hồ, chỉ có các kẻ có thiên tư đặc biệt tâm truyền mới có ánh mắt hiểu được. T́nh trạng của Dịch lư từ thượng cổ đến trước khi Khổng Tử ra đời chỉ có như thế mà thôi.
Đến đời Đông Chu, Khổng Tử ( 511 - 478 trước Tây lịch ) đem kiến giảu cảu ḿnh bổ xung vào các điều truyền lại của Dịch lư đời Chu, san định lại và viết thành Kinh Dịch trong đó bao gồm cả Âm Dương, Bát quái và Ngũ hành.
Căn cứ theo ư nghĩa thông thường, cổ nhân gán cho Âm Dương Ngũ hành, các ư nghĩa tượng trưng sau đây :  
Dương : Tượng trưng cho mặt trời, lửa, ánh sáng, sinh động, cứng cát, ban ngày, đàn ông …..  
Âm : Tượng trưng cho mặt trăng, tối tăm, nguội lạnh, bất động, mềm nhăo, ban đêm, đàn bà ….  
Kim : Vàng, bạc, hiểu rộng ra là tất cả các chất kim thuộc  
Mộc : Cây trong rừng, nói tổng quát ra là mọi thực vật trên mặt đất  
Thủy : Nước và nói rộng ra là các chất lỏng  
Hỏa : Lửa, hơi ấm  
Thổ : Đất đá, nói chung Thổ bao gồm mọi loại khoáng chất trừ kim loại
Về phương diện siêu h́nh. Âm Dương không phải là cái khí vật chất hữu h́nh hữu thể mà chỉ là biểu thị tượng trưng cho hai trạng thái tương đối, mâu thuẫn như nóng lạnh, sáng với tối, cứng với mềm, sinh với diệt, khoẻ với yếu ….
Về phương diện ư nghĩa siêu h́nh của Ngũ hành, ta cũng đi đến kết quả tương tự Kim, Mộc, Thủy, Hoả, ngoài t́m cách vật chất của nó kể trên có một ư nghĩa tượng trương có tính cách tương sinh tương khắc trong sự biến hoá của muôn vật diễn ra hàng ngày trước mắt.     
Trong tướng học, người ta rất chú trọng đến Ngũ hành và thường hiểu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ theo cả hai ư của văn tự từ nghĩa hẹp đến nghĩa rộng.

c ) Ảnh hưởng của thuyết ngũ hành trong nhân sinh quan Trung Hoa
Từ quan niệm là một lư thuyết triết học thuộc phần H́nh nhi thượng từ đời Tống trở đi, Âm Dương thuộc Ngũ hành được đem áp dụng vào lănh vực H́nh nhi hạ. Đại đa số học giả Trung Hoa và các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng văn hoá sâu đậm của Trung Hoa đă dùng lư thuyết Ngũ Hành đem giải thích và gán ghép các đặc tính của vật chất được siêu h́nh hoá của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vào các lănh vực thường dụng của nhân loại, điển h́nh là các trường hợp sau đây :
1 - Phương hướng, màu sắc, bốn mùa
a ) Mộc tượng trưng cho Mùa Xuân, màu Xanh,  phương Đông
Mùa Xuân khí hậu mát mẻ như sương buổi ban mai, biểu hiện khởi đầu của một chu tŕnh biến hoá mới của vạn vận bắt đầu hồi sinh và tăng trưởng. Mặt đất về Mùa Xuân, đâu đâu cũng một màu xanh thắm, Thái dương bắt đầu mọc ở phương đông. Tất cả đều bàng bạc ư nghĩa của Âm Dương tương thôi với Dương lấn lướt Âm một cách tương đối trong cái trung dung của Âm Dương ( Âm Dương tỷ hoà th́ vạn vật mới sinh ). Do đó, cổ nhân đă lấy Mộc tượng trưng cho mùa Xuân, màu Xanh, phương Đông.
b ) Hỏa biểu thị mùa Hạ, màu Đỏ,   phương Nam      Mùa hè nóng nực bức như lửa thiêu, Dương cương lên đến cùng cực. Hoa lá đặc trưng của mùa này như lụa và phượng vĩ trổ bông màu đỏ, phương Nam gần như ấm áp quanh năm nên Hỏa tượng trưng cho mùa Hạ, màu Đỏ và phương Nam vậy.
c ) Kim tiêu biểu cho mùa Thu, màu Trắng, phương Tây      Mùa Thu là giai đoạn cho Âm Dương tương thôi b́nh hoà khí trời nóng quá, không lạnh lắm, nhưng Dương cương bắt đầu suy, Âm nhu bắt đầu thịnh. Mặt trời lặn ở phương Tây sau khi đă mọc ở Phương Đông. Trời Mùa Thu thường có mây trắng ngà bao phủ, nên cổ nhân mới nhân đó mà chọn Kim tiêu biểu cho mùa Thu, màu trắng và phương Tây. Nói khác đi, theo Ngũ hành th́ mùa Thu, sắc trắng phương Tây thuộc Kim.
d ) Thủy tiêu biểu cho mùa Đông , màu đen , phương Bắc      Hiện tượng độc đáo nhất của mùa Đông là tuyết rơi, giá buốt, cảnh vật ảm đạm, cửa nẻo đóng kín, tối tăm. Tuyết là một trạng thái của nước, phương Bắc thường hay có tuyết nên với tinh thần tượng h́nh, chuyển ư, cổ nhân Trung Hoa chọn hành Thủy để tượng trưng cho mùa Đông, màu Đen, phương Bắc.
e ) Thổ tiêu biểu cho Đất , màu Vàng , Trung ương
Người Tàu phát tích ở lưu vực sông Hoàng Hà, đất đai ở đây màu vàng ( hoàng thổ ) nên dựa vào sự vật để định tên, lấy đất tiêu biểu cho chất Thổ và màu vàng tượng trưng cho sắc Thổ. Bởi người Tàu lấy địa phương của họ làm trung tâm quan sát, tự coi ḿnh là người trung Thổ, danh xưng là Trung quốc nên màu vàng, vàng là màu trung ương, Thổ là Hành chủ bao gồm cả bốn hành c̣n lại với lư do Địa tải sơn hà vạn vật ( Sông núi, muôn loài vạn vật đều do đất chứa đựng ).
2 - Năm đức tính căn bản của con người
Trên b́nh diện đạo đức, năm đức tính căn bản để phân định kẻ lương tri với kẻ bại hoại là Nhân Nghĩa Lễ Trí và Tín, gọi chung là Ngũ thường. Dựa vào ư nghĩa siêu h́nh của Ngũ hành và đặc tính bao quát của Ngũ thường người ta đă đi đến chỗ Ngũ hành hoá Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín .
a ) Nhân ứng với Mộc : Nhân chủ ở chỗ thanh tĩnh, ung dung tự tại, không cạnh tranh bao dung và đăi người đồng đẳng. Thảo mộc, vốn không di động cạnh tranh, loài tùng bách quanh năm xanh tươ , bất chấp gió sương, nóng lạnh, tượng trưng cho thái độ an tĩnh, ung dung tự tại. Cây cỏ c̣n để người che mưa tránh nắng, không phân biệt một ai. Hoa quả trong chốn sơn lâm ai thưởng thức cũng được. Cái đức tự nhiên lưu hành của thảo mộc tương tự như đức Nhân của bậc thức giả nên Mộc được coi là biểu tượng của đức Nhân ở nhân loại. Do ở ư nghĩa mà Khổng Tử đă nói “ Nhân giả nhạo sơn ( Bậc nhân giả thích núi ) v́ trên núi có thảo mộc tượng trưng cho đức Nhân của tạo vật.
b ) Nghĩa ứng với Kim : Luôn luôn thích ứng với phép tắc thiên nhiên hoặc công lư, hằng cửu, không biến chất, cứng cỏi không sờn. Đó là những ư nghĩa bao quát của Nghĩa. Loài Kim thuộc như vàng luôn luôn giữ măi vẻ sáng cứng rắn, khuyết biết tiết, dù ở nơi này hay nơi khác, lúc nào cũng vậy, phảng phất ư nghĩa của đức Nghĩa nên cổ nhân lấy Kim tượng trưng cho Nghĩa.
c ) Lễ ứng với Hỏa : Lễ gồm chung tất cả những ǵ soi sáng khuôn phép, tạo nên tôn trọng duy tŕ diềng mối, phát huy chân lư tự nhiên lưu hành, Tế tự là một h́nh thức cụ thể của Lễ, biểu dương sự tôn kính. Một trong những cái ứng dụng của Hỏa là soi sáng tại nơi, làm hiển lộng cái tôn kính quỷ thần của con người nên cái dụng ( về phương diện ư nghĩa triết học ) của Hoả và Lễ tương đồng, nên Lễ ứng với Hoả.
d ) Trí ứng với Thủy : Kẻ trí không điều ǵ là không thấu triệt, nước không đâu là không thông qua. Cái đức của Trí và Nước có sự tương đồng đại lược nên người xưa đă nói một cách đầy biểu tượng “ Trí giả nhao Thủy ( Bậc trí giả thích nước ). Do đó, Thủy tượng trưng cho Trí.
e) Tín ứng với Thổ : Bản chất của Thổ là không bao giờ sai chạy. Thảo mộc dựa vào đất mà sống và đất cứ theo từng mùa nhất định mà thúc đẩy sự sinh diệt của cây cối theo đúng chu tŕnh chuyển hoá tự nhiên của tạo vật, không bao giờ sai chạy. Do đó, so với Tín th́ bản chất của Tín và Thổ về ư nghĩa tổng quát có những nét tướng đồng.
3 - Năm cung bậc trong âm nhạc
a ) Cung ( âm thấp nhất ) ứng với Thổ     
b ) Thương ứng với Kim     
c ) Giốc ứng với Mộc     
d ) Chủy ứng với Hỏa     
e ) Vũ ứng với Thủy
 

ỨNG DỤNG CỦA ÂM DƯƠNG TRONG TƯỚNG HỌC
Âm Dương trong nhân tướng học không có tính cách cứng nhắc như thế nhân vẫn tưởng mà lại rất tương đối. Ngửa lên gọi là Dương, úp xuống gọi là Âm, cứng là Dương, mềm là Âm …….Nói một cách tổng quát th́ Trời có Âm Dương. Đàn ông được xem là Dương, đàn bà là Âm, nhưng chỉ là điều khái lược. Trong mỗi con người lại cũng có phân biệt Âm và Dương nữa.
Toàn thể thân thể đàn ông là Âm, nhưng bộ phận sinh dục lại là Dương nên có tên là dương vật. Toàn thể đàn bà là Dương, nhưng bộ phận sinh dục lại là Âm nên mới có danh là âm hộ.
Xương được coi là Dương, thịt được coi là Âm Phía mặt bên trái là Dương, phía mặt bên phải là Âm Phía trên của khuôn mặt ( kể từ chính giữa thần mũi ) thuộc Dương, phía dưới thuộc Âm.
Phần thân trước là Dương, phần thân sau là Âm
Trong khu vực thuộc mắt, phần trên là Dương, phần dưới coi là Âm, mắt trái là Dương, mắt phải là Âm
Những phần lồi lơm của xương khuôn mặt là Dương, những phần trũng xuống coi là Âm.
Dương th́ lộ liễu và hướng lên. Âm th́ ẩn tàng và hướng xuống. Dương cốt ở an hoà, Âm cốt ngay ngắn, Dương chủ về cứng rắn, Âm chủ về mềm mại.
Âm Dương trong mỗi con người cần phải Ḥa, phải Thuận, Hoà có nghĩa là xương ngay ngắn, không lệch, không cong, thần khí thanh nhă. Thuận là thịt phải được phân bố đều đặn khắp châu thân. Âm Dương thuận hoà chủ về phúc thọ.
Nếu như xương lộ mà không ngay ngắn, thịt chỗ nhiều chỗ ít không hợp lẽ tự nhiên ( chẳng hạn bộ phận này quá nhiều thịt, bộ phận kia lại quá cằn cỗi ) th́ gọi là Âm Dương không thuận hoà. Hoặc Âm thịnh Dương suy ( thịt nhiều mà bệu, xương lại nhỏ và yếu, không cân xứng ) hoặc Dương cường Âm nhược ( cốt lộ, thịt ít ) đều là các tướng phản lại nguyên tắc Âm Dương thuận hoà: chủ về hung hiểm bất tường.
Nói một cách tổng quát, vô luận nam nữ, trong mỗi con người ( h́nh tướng, tính cách, khí sắc, thanh âm, phần vô h́nh cũng như phần hữu h́nh ) đều bị nguyên lư Âm Dương chi phối.
Đàn ông bản chất vốn Dương nhưng cần phải có Âm thích nghi điều hoà. Đàn bà vốn thuộc Âm nhưng phải có Dương để phụ giúp. Nếu khống thế, đàn ông chỉ có thể Dương thuần mà không có Âm chất th́ sẽ mất sự khống chế cần thiết, đàn bà chỉ có Âm nhung mà không có Dương chất thêm vào th́ trở thành quá mềm yếu và không tự tiến triển được.
Tuy nhiên dù Dương thuận phải có Âm chất để điều hoà cho thích nghi nhưng Âm không được lấn át phần Dương. Nếu Âm chất thái quá người ta gọi là Dương sai.
Âm nhu tuy phải cần Dương cương để tiết giảm phần xấu và phát huy phần tốt nhưng nếu phần Dương lấn át hẳn phần Âm ( vốn là phần căn bản ) th́ trường hợp đó mệnh danh là Âm thác.
Nguyên tắc tổng quát trên áp dụng cho tất cả các bộ vị trọng yếu trong con người. Nghĩa là các bộ vị không được vi phạm các điều cấm kỵ của nguyên lư Âm Dương thích nghi. Nói khác đi, không được phạm vào Âm thác hoặc Dương sai.
a ) Dương hoà
Tính cách Dương mạnh mẽ nhưng được tiết chế đúng mức cần thiết th́ gọi là Dương hoà, Dương hoà bao gồm :     
-    Đầu tṛn, đỉnh đầu bằng phẳng     
-    Đầu hơi có góc cạnh, mặt hơi vuông vức, trán có xương tṛn nổi lên rất rơ     
-         Ngũ nhạc nổi nhưng không quá lộ liễu, Sơn căn nổi khá cao gần ăn thẳng lên Aán đường     
-         Lông mày mọc xếch lên cao và có uy lực, lông mày hơi có góc cạnh ( h́nh thù lông mày gập cong
lại như h́nh chữ, chứ không cong như chữ )
-         Sợi lông mày hơi hướng về phía trên
-         Mắt có chiều dài rơ rệt và có tụ thần
-         Sắc diện hoà ái, chẳng cần phải lập uy mà vẫn có vẻ oai nghiêm tự nhiên
-         Nói năng mau chậm thích nghi với từng câu chuyện, tư tưởng khoáng đạt, lâm sự quyết đoán
chuẩn xác, xử trí quang minh, đi đứng thung dung .
b ) Âm thuận
Tính cách Âm rất rơ ràng nhưng không quá ủy mị hèn yếu th́ gọi là Âm thuận. Được coi là Âm thuận khi :
-         Đầu tṛn, mặt hơi vuông nhưng vẫn không xoá hẳn được những nét tṛn trịa
-         Ngũ nhạc đều có dáng phảng phất h́nh tṛn ( nhưng không nổi bật các nét tṛn đó )
-         Sơn căn mạnh mẽ có thế. Aán đướng bằng phẳng, rộng
-         Lông mày hơi cong mà mắt lại hơi dài ( không được quá dài )
-         Tiếng nói hơi nhỏ nhưng âm thanh rổn rản trong trẻo
-         Nói năng từ tốn, nhưng không chậm, phản ứng không nhanh nhưng không quá trễ hoặc lỳ lợm
-         Sắc diện hoà nhă khiến người ngoài dễ sinh thiện cả
-         Xử sự ôn hoà
c ) Kháng Dương
Tính cách Dương quá mạnh không có sự tiết chế đúng mức th́ gọi là Kháng Dương. Các chỉ dấu của Kháng Dương bao gồm :
-         Đầu tṛn nhưng đỉnh đầu nhọn
-         Mặt có những bộ vị nổi tṛn thành từng cục
-         Ngũ nhạc nổi tṛn mà đầu có dạng nhọn, nhỏ
-         Lông mày ngắn mà cong ṿng hoặc ngắn mà thế của mày lại hướng lên
-         Mắt lồi và tia mắt long lanh
-         Tai nhọn và dựng đứng
-         Tiếng nói lớn nhưng giọng điệu quê kệch hoặc giọng rè
-         Tính t́nh nóng nảy thô bạo, xử sự sơ xuất, không nghĩ trước, không lo sau khiến người quan sát
thoáng qua đă nhận được ngay sự thô lỗ .
d ) Cô Âm
Chỉ có những cách Âm thuần túy mà không có Dương tính để hỗ trợ th́ gọi là Cô Âm. Đặc tính này được phát hiện ra ngoài qua các dấu hiệu sau đây :
-         Toàn thể đầu và khuôn mặt đều chỉ có h́nh vuông, hoặc thiên về h́nh vuông, hoặc đầu lớn mà
khuôn mặt lại quá nhỏ không tương xứng
-         Chính diện th́ nh́n thấy bằng phẳng mà trắc diện lại thấy ở phần giữa lơm xuống
-         Mắt sâu mà lông mày mọc lan xuống tận bờ mắt hoặc mắt sâu mà xương lông mày thô, hoặc lông mày quá đậm mà ngắn
-         Râu ria quá râm rạp, không thích nghi với tóc
-         Tiếng nói như có vẻ kḥ khè ở cuống họng, điệu nói chậm răi mà trong đó lại xen kẽ âm thanh chói tai hoặc thanh mà đứt đoạn
-         Sắc diện lúc nào cũng có vẻ u uất, xử sự quá tính toán, cân nhắc khiến người ngoài thoáng thấyđă nhận ra ngay là con người ác hiểm.
 e ) Âm thác, Dương sai
Bản chất căn bản là Âm nhưng pha trộn quá nhiều Dương tính khiến phần Âm trở thành thứ yếu th́ gọi là Âm thác. Ngược lạ , bản chất căn bản là Dương mà Dương tính quá yếu khiến Âm chất lấn át rơ rệt th́ gọi là Dương sai. Dưới đây là các dấu hiệu bề ngoài cảu các hiện tượng trên
-         Đầu tṛn thuộc Dương, mặt vuông thuộc Âm, phía trước mặt thuộc Dương, phía sau gáy ( ót )
thuộc Âm cho nên đầu lớn mặt nhỏ, phía trước lớn mà phía sau nhỏ th́ gọi là Dương sai
-         Đầu vuông thuộc Âm, mặt tṛn thuộc Dương, nếu như hai phần đó quá sai lệch th́ gọi là Âm thác
-         Phần lồi trên khuôn mặt thuộc Dương, phần lơm trên khuôn mặt thuộc Âm . Do đó, nếu Đông Tây
Nam Bắc Nhạc nảy nở, cao ráo mà Trung nhạc lại trũng xuống th́ gọi là Dương sa . Trái lạ , bốn Nhạc phụ tuỳ đều trũng xuống hoặc bị phá hăm chỉ có Trung nhạc nổi cao một ḿnh th́ gọi là Âm thác
-         Chỉ có xương mà không có thịt, mắt lộ mà không có lông mày người lớn, tiếng nhỏ gọi là Dương
sai
-         Có quá nhiều thịt mà thiếu xương, lông mày rậm rạp lam xuống bờ mắt, chân tóc mọc thấp, Thiên
thương hẹp, nhiều râu ria mà giọng nói khô khan ……đều được mệnh danh là Âm thác
-    Mặt tuy lớn, nhưng sắc ảm đạm, thân h́nh tuy có vẻ nam tính mà bước chân lệch lạc ẻo lả như con gái th́ gọi là Dương sa . Thân h́nh nữ mà cử chỉ mạnh bạo cứng cỏi như nam giới th́ gọi là Âm thác
Tóm lại, vấn đề Âm thác, Dương sai rất phức tạp, khó mà lĩnh hội toàn vẹn nếu không có kiến giải sâu rộng, quan sát tinh tế. Chương này chú trọng đặc biệt đến hai nguyên tắc căn bản của Dương sai, Âm thác như sau :
1 - Đàn ông được gọi là thuần Dương mà lẫn lộn cá tính phụ nữ ( bất kể về phương diện ǵ : đi, đứng, ăn, nói …..) khá rơ th́ gọi là Chính Dương sai
2 - Đàn bà được coi là thuần Âm nếu, pha trộn nam tính ( dù về phương diện ǵ cũng vậy ) quá lộ liễu th́ gọi là Chính Âm thác
Từ hai nguyên tắc căn bản trên, ta đi đến bốn hệ luận :
a ) Bất kể nam, nữ đều lấy đầu, âm thanh, cốt cách tượng trưng cho Dương chất. Cho nên, không cần biết thân h́nh lớn hay nhỏ, điểm căn bản là phải lấy cốt cách trầm ổn, vững chăi, tiếng nói trong trẻo, rơ ràng có tiếng vang làm chính. Được như thế là cát tướng Tiếng khô khan, âm vận không có hoặc ngắn ngủi th́ dầu thân h́nh lớn hay nhỏ đều không đáng kể ǵ tới v́ đó là hung tướng, tượng trưng cho Dương sai.
b ) Bất kể nam nữ, đếu lấy khuôn mặt tượng trưng cho Dương, cho nên Ngũ nhạc nổi rơ nhưng không quá lộ liễu thô bỉ, râu tóc và lông mày thích nghi tương xứng là dấu hiệu cát tướng. Ngũ nhạc phá hăm, râu ria và lông mày quá đậm là hung tướng v́ đó bị gọi là Âm thác
c ) Thân h́nh to lớn khôi ngô mà khí phách nhỏ hẹp, xử sự thô lỗ, âm hiểm tàn nhẫn, chấp nể tiểu tiết, không biết quyền biến, đó là Dương không khống chế được Âm nên gọi là Dương sai
d ) Người nhỏ mà xử sự xô bồ không có giới hạn, khí phách cuồng ngạo chỉ biết tiến mà không biết thoái lui khi cần thiết th́ đó là Âm không kiềm chế được Dương nên gọi là âm thác